Năm 1989, một người đàn bà 31 tuổi rời ngôi làng vùng núi tỉnh Tứ Xuyên. Trên vai bà là một chiếc đòn gánh. Một đầu là rổ gạo. Đầu kia là đứa con trai 4 tuổi, nằm gọn trong rổ, ngủ gà gật theo nhịp chân mẹ.
Bà đi bộ 30 cây số ra trạm xe. Rồi lên xe khách. Rồi lên tàu. Ba ngày ba đêm, băng qua mấy tỉnh, để đến một thành phố mà vài tháng trước bà còn chưa nghe tên: Thâm Quyến.
Trong người bà không có gì ngoài một bức điện tín của người em họ. Bức điện vỏn vẹn mấy dòng. Lên đi. Làm công xưởng. Bảy hào một giờ ban ngày, tám hào ban đêm. Có chỗ ăn ở.
Bà tên Lý Kim Tú. Khi ấy bà chưa biết mình sắp đứng bên một dây chuyền sản xuất suốt 30 năm sau đó. Bà càng không biết rằng, rất nhiều năm về sau, khi có người hỏi cả đời bà rốt cuộc được gì, bà sẽ chỉ trả lời được bằng một câu thật ngắn.
Lý Kim Tú sinh năm 1958, trong một ngôi làng không có tên trên bản đồ. Nhà nghèo, học hết bậc tiểu học thì nghỉ, ở nhà phụ ruộng. Năm 22 tuổi bà lấy chồng, một người đàn ông tên Ô Phát Châu, vốn ốm yếu, không kham nổi việc nặng. Năm 1982 bà sinh con gái đầu lòng, đặt tên Ô Hà. Vài năm sau có thêm một đứa con trai.
Mấy sào ruộng không đủ nuôi bốn miệng ăn. Cho nên khi bức điện tín của người em họ đến vào một sáng tháng Tư, bà đọc xong, không nói gì. Đến chiều thì lặng lẽ xếp đồ.
Bà thuộc về một lớp người mà bây giờ người ta gọi là "nữ công nhân thế hệ đầu". Những người đàn bà quê mùa, ít chữ, rời làng vào cuối thập niên tám mươi để đổ về các đặc khu công nghiệp đang mọc lên san sát. Họ làm những việc mà người khác không muốn làm. Họ ở những nơi mà người khác không muốn ở. Và phần lớn trong số họ, đến cuối đời, không một ai còn nhớ tên.
Lý Kim Tú lẽ ra cũng chỉ là một cái tên như thế. Một trong hàng triệu cái tên. Nếu không vì một chuyện xảy ra rất nhiều năm sau.
Thâm Quyến năm 1989 đón bà bằng một khu nhà trọ lợp tôn, ban ngày nóng như lò. Sáu người ngủ chung một phòng. Bà, hai đứa con, và một gia đình công nhân khác.
Xưởng đầu tiên là một xưởng túi xách. Việc của bà là cắt chỉ thừa, mỗi ngày 12 tiếng. Lương tuần đầu được 38 đồng. Bà gửi về quê 30, giữ lại 8 đồng mua cháo cho con.
Hai tháng sau bà bị cho nghỉ vì cắt chậm. Bà sang một xưởng nhựa. Ba tháng, rồi nghỉ vì lên cơn hen do hít bụi. Sang một xưởng quần áo, may đường biên. Bốn tháng, rồi nghỉ vì đường may không đều. Sang một xưởng điện tử, lắp tụ điện. Tám tháng, rồi nghỉ vì mắt kém, không nhìn rõ linh kiện.
Bốn xưởng. Bốn lần bị đuổi. Mỗi lần bị đuổi là một tuần cả nhà nhịn đói.
Năm 1993, khi bà 35 tuổi, có người chỉ cho bà vào một xưởng bao bì tên Cao Tùng, chuyên đóng gói hàng xuất khẩu. Lần này người ta nhận. Ngày bà vào ca đầu tiên là 16 tháng 7 năm 1993. Tháng lương đầu tiên: 172 đồng.
Tối hôm nhận lương, bà lấy một cuốn sổ tay nhỏ, nắn nót viết vào trang đầu mấy chữ vụng về. "16-7. Cao Tùng. 172. Gửi quê 150. Giữ 22."
Hai mươi hai đồng đó, bà chia ra cho cả tháng. Cơm trắng với rau muối. Thi thoảng mua hai lạng thịt ba chỉ cho hai đứa con. Cuốn sổ ấy, bà giữ đến tận bây giờ.
Cao Tùng giữ bà lại 17 năm. Mười bảy năm bà đứng bên cùng một dây chuyền, gói cùng một loại túi nilon đựng đồ điện tử xuất đi nước ngoài. Bảy giờ sáng vào ca. Bảy giờ tối tan ca. Rồi tăng ca tới chín, mười giờ đêm. Cuối tuần làm thêm sáng thứ Bảy.
Năm con gái Ô Hà 14 tuổi, nó nghỉ học, lên Thâm Quyến làm cùng mẹ, cùng bộ phận đóng gói. Có một tấm ảnh chụp năm 1998, hai mẹ con đứng cạnh dây chuyền, cùng đeo khẩu trang trắng, cùng mặc áo lao động màu xanh. Nhìn vào ảnh, khó mà phân biệt đâu là mẹ, đâu là con.
Năm Ô Hà 19 tuổi, nó bắt đầu viết. Ban ngày làm ở xưởng. Tối về phòng trọ, ngồi trên chiếc ghế gỗ, nó cầm cây bút bi chép vào sổ những gì mắt mình nhìn thấy mỗi ngày. Người công nhân ngất trên dây chuyền. Người quản lý mắng một bà thợ già. Một cô gái trẻ lặng lẽ bỏ đi trong đêm vì bị quỵt lương.
Năm 2008, cuốn sách đầu tiên của Ô Hà được xuất bản. Trên bìa, nhà xuất bản in một tấm ảnh: một dây chuyền đóng gói, những người đàn bà cúi đầu làm việc. Đó chính là tấm ảnh chụp ở xưởng Cao Tùng năm 1998. Trong ảnh có Lý Kim Tú.
Bà không biết đủ chữ để đọc hết cuốn sách của con. Bà chỉ nhận ra mình trên bìa. Bà bật cười, nói với con: "Con bé này, lén lấy ảnh của mẹ."
Năm 2010, xưởng Cao Tùng chuyển đi tỉnh khác, nơi có nhân công rẻ hơn. Toàn bộ thợ lớn tuổi bị cho nghỉ, không một đồng trợ cấp. Lý Kim Tú khi đó 52 tuổi, chưa đủ tuổi nhận lương hưu. Bà đi xin việc khắp nơi. Không xưởng nào nhận. Với họ, ngoài 50 tuổi đã là quá già.
Một bữa tối ở phòng trọ, Ô Hà nói với mẹ: "Mẹ về quê đi. Con nuôi mẹ."
Lý Kim Tú lắc đầu. "Viết sách thì đẻ ra được mấy đồng. Mẹ làm thêm mươi năm nữa."
Bà xin được một chân rửa bát trong nhà ăn của một khu công nghiệp. Bốn nghìn cái bát mỗi ngày.
Năm 2023, bà 65 tuổi và vẫn đang rửa bát. Một phóng viên trẻ tìm đến, làm một loạt bài về thế hệ nữ công nhân đã đi qua. Cô hỏi bà nhiều câu. Câu nào bà cũng trả lời thật ngắn.
Gần cuối buổi, cô hỏi: "Cả đời mình, bà có điều gì nuối tiếc không?"
Lý Kim Tú đặt cái khăn lau bát xuống. Bà nhìn hai bàn tay mình một lúc lâu. Bàn tay của một người đàn bà 65 tuổi, móng ngả vàng, các khớp ngón sưng vì viêm, một vết sẹo dài trên cổ tay từ lần bị máy cắt vào năm 1995. Rồi bà nói, chậm rãi:
"Cả đời làm công. Tiền thì không kiếm được. Người thì đã già rồi."
Phóng viên im lặng. Một lúc sau cô hỏi tiếp: "Vậy bà có hối hận vì đã lên Thâm Quyến năm 1989 không?"
Lần này bà không cần nghĩ. Bà lắc đầu.
"Không. Con gái tôi viết được sách là nhờ nó lớn lên ở đây. Nếu ở lại quê, nó đã không biết viết. Tôi đến nơi này, là để cho nó biết viết. Vậy là đáng."
Cô phóng viên gấp sổ lại, nói cảm ơn, đứng dậy. Lý Kim Tú quay về phía bồn rửa, cầm cái bát tiếp theo trong chồng bát cao. Bốn nghìn cái mỗi ngày. Bốn nghìn lần một tay xoay bát, một tay chà.
Thời này, người ta hay đo một đời người bằng những thứ nhìn thấy được. Một căn nhà. Một chức danh. Một con số trong tài khoản. Theo cái thước đó, Lý Kim Tú là một người thất bại. 30 năm làm công, bà không có nhà, không có của để dành, không có lấy một cái tên mà người ngoài gia đình biết đến.
Nhưng có một thứ bà làm được mà cái thước kia không đo nổi. Bà đưa được con mình tới một nơi nó có thể học cách cầm bút. Và đứa con đó, bằng chính cây bút ấy, đã ghi lại không chỉ đời mình, mà cả đời mẹ.
Tôi nghĩ đến biết bao người cha người mẹ ở quê mình. Những người rời ruộng đồng ra Bình Dương, Bắc Ninh, vào khu công nghiệp, ở nhà trọ chật, dành dụm từng đồng lương gửi về cho con ăn học. Họ cũng tin rằng mình chẳng trở thành ai. Họ cũng nghĩ đời mình chỉ là một quãng làm thuê dài rồi già đi. Họ không hề biết rằng, với những đứa con đang lớn lên nhờ những đồng tiền ấy, họ là tất cả.
Lý Kim Tú nghĩ cả đời mình không trở thành ai.
Nhưng tên bà, một người đàn bà sinh năm 1958 ở một ngôi làng vùng núi Tứ Xuyên, giờ đã nằm trong một cuốn sách. Có người đọc nó. Có người nhớ nó. Bà đã thành một cái tên được ghi lại, bởi đúng bàn tay mà bà từng nuôi lớn bên bồn cơm và dây chuyền.
Có những người không kịp xây gì cho riêng mình. Họ chỉ kịp xây nên một con người khác. Và đôi khi, đó mới là công trình ở lại lâu hơn cả.