Ở một ngôi làng nằm trong núi sâu, có một ông lão 80 tuổi mỗi sáng dậy trước cả gà. Khoảng 5 giờ, ông ngồi xuống chiếc ghế gỗ thấp ngoài hiên, cầm một cây tre, cầm một con dao, bắt đầu chẻ nan. Ông đã làm đúng việc đó, đúng tư thế đó, vào đúng giờ đó, suốt 62 năm.
Có một điều lạ. Trong làng, không còn lấy một người nối nghề ông nữa.
Ông tên Hứa Trung Ước. Làng ông là một làng heo hút, cách trung tâm huyện gần 30 cây số đường núi, không có xe khách chạy thẳng vào. Làng sống bằng nghề trồng lúa, trồng chè, và vài nghề thủ công. Nổi tiếng nhất là nghề đan tre, đặc biệt là sọt cưới.
Sọt cưới là vật bắt buộc trong lễ rước dâu của vùng. Cô dâu đeo chiếc sọt tre đỏ trên lưng, đi qua núi về nhà chồng. Sọt do ông Hứa đan được coi là đẹp nhất vùng.
Năm 18 tuổi, ông bái thầy học nghề. Thầy là một ông lão trong họ, đan tre đã 50 năm. Bữa nhận học trò, cụ nói với cậu thanh niên Trung Ước một câu mà ông nhớ tới giờ: "Mày học cái này thì đừng mơ giàu. Cầm được con dao tre, không lo đói cơm, thế thôi."
Cậu Trung Ước gật đầu, ngồi xuống chẻ nan.
Chẻ nan tre, cái việc nghe đơn giản, thật ra phải học ba năm mới làm cho đều tay. Một cây tre dài bốn mét được chẻ ra thành hai ba chục sợi nan đều nhau, mỗi sợi rộng vài li. Dày quá thì gãy. Mỏng quá thì rách. Không đều thì sọt méo.
Năm 21 tuổi, ông được thầy công nhận là đã thành nghề. Thầy tặng ông con dao tre cụ đã dùng nửa thế kỷ, cán gỗ lim, lưỡi thép tốt. "Mày giữ con dao này mà làm nghề. Đừng mua dao mới. Dao mới không quen tay."
Ông giữ con dao ấy đến nay đã 59 năm. Chỗ ngón cái tì lên, qua tay thầy rồi tới tay ông, đã mòn thành một vết lõm nhỏ.
Năm 22 tuổi ông cưới vợ. Cô vợ ở làng bên, đeo sọt cưới của làng bên qua núi về, không phải sọt ông đan, vì khi đó ông chưa đủ tay nghề. Ông tiếc. Đêm tân hôn, ông hứa với vợ sẽ đan cho bà một cái khác, đẹp hơn. Vợ ông cười, bảo cần gì. Ba mươi năm sau, ngày con gái út lấy chồng, ông đan riêng cho vợ một chiếc sọt hái chè, to gấp đôi, có hoa văn rồng phượng. Vợ ông đeo nó đi hái chè suốt hai mươi năm. Năm bà mất, chiếc sọt được treo lên tường, không ai dùng nữa.
Sáu mươi năm cầm dao, ông Hứa đã đan ra khoảng hai nghìn chiếc sọt cưới, một nghìn rưỡi chiếc sọt hái chè, và vô số rổ, rá, sàng, lồng gà. Cả vùng ai cũng biết ông. Có nhà ở cách ba mươi cây số, đi bộ qua núi tới đặt một chiếc sọt cưới cho con gái. Ông không bao giờ nâng giá, vẫn 600 đồng một chiếc, dù ngoài chợ một chiếc tương tự có thể bán tới một nghìn rưỡi. Hỏi vì sao, ông cười: "Tôi đan vì thích. Lấy đắt thêm, tôi thấy ngại."
Ông từng có học trò. Bốn người thanh niên trong làng, vào các năm khác nhau. Cả bốn đều bỏ.
Người bỏ đầu tiên, sau hai năm, vì lương đan tre không đủ tiền cưới vợ. Người thứ hai, sau ba năm, bỏ vào miền nam làm thợ xây. Người thứ ba đi làm công nhân ở thành phố. Người thứ tư là đứa trẻ nhất, đầy hi vọng nhất, theo ông lâu nhất, rồi cũng bỏ vì bố mẹ bệnh, cần một đồng lương cao hơn.
Trước khi đi, cậu này quỳ xuống trước ông Hứa, khóc: "Thầy ơi, con xin lỗi. Con không nuôi nổi gia đình bằng nan tre."
Ông Hứa đỡ cậu dậy, lắc đầu: "Không phải lỗi mày. Là thời thế. Mày đi đi. Đi đâu sống được thì đi."
Từ đó, ông không nhận thêm học trò nào. Người trong làng hỏi sao không truyền nghề. Ông cười: "Truyền cho ai? Trẻ con bây giờ, ai chịu ngồi bảy ngày đan một chiếc sọt 600 đồng. Một tháng đan được bốn chiếc. Không bằng đi chạy giao hàng."
Có đoàn người về làng quay phim ông, hỏi tại sao ông vẫn đan dù chẳng còn ai theo. Ông im một lúc, nhìn xuống cây tre đang chẻ dở, rồi nói: "Bây giờ đan đã thành thói quen của tôi rồi. Không đan, không biết làm gì. Như người ta sáng phải uống một chén nước. Không uống thì khó chịu."
Họ hỏi tiếp, ông có buồn không khi nghề này có thể mất đi sau khi ông không còn. Ông Hứa ngẩng lên. Tóc bạc gần hết, mắt vẫn sáng.
"Có. Buồn chứ. Nhưng tôi buồn cũng không cứu nổi nghề. Tôi chỉ giữ được tới ngày tôi nhắm mắt. Sau đó là chuyện của trời."
Tôi nghĩ tới biết bao làng nghề ở quê mình đang lặng lẽ tắt đi. Chiếu cói, gốm, mây tre đan, dệt thổ cẩm. Người trẻ rời làng vào khu công nghiệp, chạy xe giao hàng, làm những việc nuôi sống được gia đình. Trách họ thì không nỡ, vì họ cũng chỉ đang cố sống cho tử tế.
Nhưng câu chuyện ông Hứa làm tôi dừng lại ở một chỗ khác. Ông không đan để giàu. Ông cũng đã thôi đan để truyền lại cho ai. Vậy mà sáng nào ông cũng ngồi xuống, cầm con dao, chẻ nan. Có một thứ chung thủy lạ lùng ở đó. Người ta gắn bó với một việc lâu đến mức việc đó không còn là nghề kiếm sống, cũng không còn là di sản để lại, mà đã trở thành chính con người mình. Buông nó ra, là không còn biết mình là ai nữa.
Buổi sáng ở làng, khói bếp lượn trên những mái nhà. Gà gáy lần thứ ba.
Hứa Trung Ước, 80 tuổi, vẫn ngồi đó, cây tre trên gối, con dao 59 năm trong tay, một chiếc sọt cưới đang đan dở.
Có những người giữ một việc không phải để đời sau ghi nhớ. Họ giữ, chỉ vì buông tay ra thì không còn là mình.