Cái xóm ấy, ngày xưa, có mười nóc nhà. Mười cái sân liền vách nhau, mái ngói xám, nền gạch đỏ, một bức tường đầu hồi chung giữa nhà này với nhà kia. Sáng tinh mơ, con gà nhà sau gáy thì cả xóm cùng dậy. Tối, đứa trẻ nhà này ăn cơm muộn, mẹ nó gọi một tiếng, đứa nhà bên kia nghe cũng chạy về.
Bây giờ, cả xóm chỉ còn lại hai người. Một người mẹ đã già, và đứa con trai ở lại cùng bà.
Người con trai ấy lớn lên ở xóm, thuộc tên từng đứa trẻ của từng nhà. Hồi đó xóm đông vui. Nhà nào cũng có tiếng con nít, có khói bếp, có cả những trận cãi vã về con gà nhà ai sang bới sân nhà ai. Rồi một ngày, từng nhà một bắt đầu dọn đi. Người lên thành phố theo con. Người bỏ ruộng đi tha hương kiếm việc. Người mang tiếng phải rời làng. Cứ thế, mỗi vài năm, xóm lại vắng thêm một nóc nhà.
Nhà đầu tiên đi là nhà ông Lai.
Ông Lai có hai con trai. Con cả học giỏi, lên thành phố làm một việc mà người trong xóm chỉ gọi chung là "làm quan". Mỗi lần về, anh mặc sơ mi trắng, đeo đồng hồ, mang cho mẹ một cái vali da. Từ ngày con làm quan, ông Lai ít cười hẳn, hỏi gì cũng chỉ "ờ, ờ". Còn bà Lai thì vẫn ra giếng giặt đồ, vẫn nướng bánh, vẫn cãi nhau với hàng xóm về con gà.
Năm người con trai 12 tuổi, ông Lai mất. Đám tang to nhất xóm. Con cả về, mặc đồ đen, lái xe hơi. Đám xong, anh đón bà Lai lên thành phố. Bà không muốn đi. Đêm trước hôm chuyển, bà sang nhà người mẹ ngồi tới khuya. "Tôi không muốn đi. Đất này có phần xương ông ấy." Người mẹ không nói gì, chỉ rót thêm cho bà một ly trà. Sáng sau, bà Lai vẫn đi.
Nhà sau lưng là nhà ông Mã, làm ruộng, vợ nuôi gà. Ba người con, hai trai một gái. Hai anh trai cãi nhau từ thuở hai mươi vì chuyện chia ruộng. Đến khi ông Mã mất, họ cãi to hơn vì chuyện chia nhà. Cuối cùng cả nhà bỏ đi miền nam kiếm việc. Hôm đi, họ không khóa cổng. Đàn gà chừng 30 con bị thả ra ngoài đường. Mấy hôm đầu, gà còn quay về sân cũ ngủ. Đến hôm thứ mười thì không còn ai nghe tiếng gà gáy nữa.
Nhà ngang là nhà ông Lữ, ba trai một gái. Cô gái út tên Tứ Á, lớn lên đẹp nhất xóm. Năm 18 tuổi, cô vướng vào một người đàn ông giàu trên phố, người đã có vợ. Cả xóm bàn tán. Cả nhà ông Lữ mang tiếng. Năm sau, họ bốc bài vị tổ tiên, lặng lẽ rời xóm, đi về một nơi xa không ai rõ.
Người cuối cùng đi là ông Phúc.
Ông Phúc không vợ, không con, không người thân, sống một mình trong cái sân rộng nhất xóm. Ông hay ngồi dưới gốc cây hạnh nhân trước cổng, kể chuyện cũ cho lũ trẻ con nghe. Chuyện gì ông cũng bắt đầu bằng một câu: "Hồi xóm này còn đông…" Năm người con trai 32 tuổi, ông Phúc mất. Người ta tìm thấy ông trong nhà, đã ba ngày không ai hay. Sân nhà ông bị quy hoạch thành một trường mẫu giáo. Người ta phá hết, chỉ chừa lại cây hạnh nhân già trước cổng. Không ai biết vì sao họ giữ nó. Có lẽ vì cái cây quá già, chặt đi cũng ngại tay.
Giờ thì cả xóm, tám nóc nhà đóng cửa im ỉm. Hai cái đã sập mất một nửa. Một cái biến thành trường mẫu giáo. Chỉ còn một nhà có người ở, là nhà người mẹ, sáng nào cũng giặt đồ bên giếng.
Có lần người con hỏi: "Mẹ ơi, hay mình cũng dọn đi?"
Người mẹ đang vắt cái khăn, không ngẩng lên. "Không. Lá rụng về cội. Họ sẽ quay lại."
"Mẹ tin họ quay lại thật à?"
"Không quay lại thì mộ ông bà nội con vẫn ở đây. Phải có người."
Người con không nói gì nữa. Anh ở lại.
Mỗi lần đi ngang trường mẫu giáo dựng trên nền nhà ông Phúc, anh dừng lại. Cô giáo trẻ, người ở nơi khác tới, gật đầu chào anh. Lũ trẻ nhìn anh như nhìn một người lạ. Anh lấy trong túi cây bút màu cam, vẽ một mặt trời nhỏ lên trán đứa bé đứng gần cổng nhất.
"Chú vẽ gì vậy?"
"Mặt trời."
"Để làm gì ạ?"
"Để sau này cháu nhớ. Hồi xưa, ngay chỗ này, có một ông lão hay ngồi dưới gốc cây hạnh nhân kia, kể chuyện cho lũ trẻ con nghe."
Đứa bé không hiểu hết. Nó chỉ cười toe. Trên trán nó có một mặt trời màu cam.
Tôi đọc câu chuyện này và nghĩ tới biết bao ngôi làng ở quê mình. Những ngôi làng mà người trẻ đã rời đi gần hết, ra Hà Nội, vào Sài Gòn, sang xứ người làm thuê. Làng chỉ còn người già và trẻ nhỏ. Nhà khóa cửa quanh năm, mỗi năm con cháu về một lần vào dịp Tết, rồi lại đi.
Người xưa nói lá rụng về cội. Nhưng cội của những người đã đi, có khi đã dời sang một thành phố khác mất rồi. Người ở lại giữ cái xóm, giữ nấm mồ, giữ ký ức, cho một đám người có thể sẽ không bao giờ quay về. Tôi không dám chắc người ở lại là người sáng suốt hay là người khờ dại. Tôi chỉ biết, nếu không có họ, thì cái nơi gọi là quê sẽ tắt hẳn, lặng lẽ, không một ai hay.
Người con không tin chắc những người đã đi rồi sẽ quay về. Nhưng mẹ anh tin. Và chừng nào người mẹ còn ngồi giặt đồ bên giếng, chừng nào cây hạnh nhân của ông Phúc còn đứng trước cổng, thì cái xóm ấy vẫn chưa thật sự chết.
Có những người ở lại, không phải vì họ khôn hơn người ra đi. Họ ở lại vì còn tin một điều, rằng người đã đi rồi sẽ có ngày trở về.
Niềm tin ấy, dù có thể là sai, cũng đủ ấm cho cả một đời.