Trong những năm ngồi nghe người ta kể chuyện đời, có một nỗi ấm ức tôi gặp đi gặp lại, mà ít khi người mang nó dám nói thành lời.
Đó là nỗi của một người có tài thật, làm việc thật nhiều, bỏ ra thật nhiều, mà con đường cứ tắc. Người kém hơn lại được cất nhắc, được quý, được nâng đỡ. Còn mình thì như đứng mãi ngoài rìa, làm bao nhiêu cũng thấy đời như quay lưng đi. Trong lòng họ có một câu không dám hỏi to: mình có thua kém ai đâu, vậy thì sao lại ra nông nỗi này?
Câu hỏi ấy, càng ngẫm tôi càng thấy nó không phải chuyện riêng của một vài người. Nó chạm vào một cái lẽ xưa cũ, xưa như chính chuyện khoa danh, chuyện một người có được đời dùng tới hay không. Mà cái lẽ ấy, người xưa nước mình đã sống qua tận xương tủy, đã để lại cho hậu thế mấy tấm gương mà tôi nghĩ ai đang ôm nỗi ấm ức kia cũng nên ngồi xuống ngẫm một lần.
真才 Tài thật thì vẫn là tài, dù đời có dập lên dập xuống
Trước khi đi tìm lý do vì sao đời quay lưng, tôi muốn nói cho rõ một điều, kẻo cả bài này sẽ lệch. Người có tài mà chưa được dùng, điều đầu tiên cần giữ, là đừng vội nghi ngờ chính cái tài của mình.
Hãy nhớ tới Nguyễn Công Trứ. Thuở hàn vi, ông thi mãi tới ngoài bốn mươi tuổi mới đỗ. Ra làm quan rồi thì con đường của ông là một chuỗi lên voi xuống chó, có khi đang giữ chức lớn bị giáng một mạch xuống làm anh lính quèn, rồi lại được cất lên. Một đời quan của ông, nếu chấm theo lúc thăng lúc giáng, thì chẳng mấy khi yên. Vậy mà cái khí trong người ông không lúc nào tắt. Ông viết một câu mà đời sau còn nhắc: “Đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông.”
Câu ấy không phải lời than thân. Nó là lời của một người tin chắc vào cái tài và cái phận của mình, tin tới mức dù đời có dập lên dập xuống bao nhiêu lần thì lòng tin ấy vẫn không suy suyển. Tới năm tám mươi tuổi ông còn xin ra trận, cái chí ấy đủ nói lên tất cả.
Tôi nhắc tới ông trước tiên là để nói với bạn một điều đơn giản mà dễ quên trong lúc nản lòng: tài thật thì vẫn cứ là tài. Đời chưa nhìn nhận không có nghĩa là tài ấy kém đi. Cái đèn để trong xó tối thì người ngoài không thấy, nhưng ánh sáng của nó có mất đi đâu.
三足 Vì sao tài thật rồi mà vẫn có người cả đời bị quay lưng
Nhưng nói thế rồi, vẫn còn nguyên câu hỏi day dứt: nếu tài thật vẫn là tài, thì vì sao có người ôm tài mà cả đời bị đời ngoảnh mặt?
Tôi nghĩ, gốc của sự hiểu lầm nằm ở chỗ này. Ta hay tưởng rằng cứ có tài là ắt được trọng dụng, như thể tài năng và thành đạt là hai cái đi liền nhau, có cái này thì tự khắc có cái kia. Sự thật không vận hành như vậy.
Tài chỉ là một chân trong một cái kiềng ba chân. Chân thứ nhất là cái tài, là cái thực lực mình có. Chân thứ hai là cái thời, là cái lúc mà xã hội, hoàn cảnh, vận nước đang cần đến đúng thứ mình giỏi. Chân thứ ba là cái người, là việc có gặp được một người đủ tầm nhìn để nhận ra tài mình mà trao cho mình một chỗ đứng hay không. Cái kiềng phải đủ ba chân mới đứng vững. Thiếu đi một chân, dù chân tài có chắc tới đâu, cái kiềng vẫn nghiêng đổ.
Điều đáng nói là, trong ba chân ấy, người ta thường chỉ chăm chăm vào mỗi chân thứ nhất. Cứ nghĩ mình mài tài cho thật sắc là đủ. Mà quên mất rằng tài có sắc tới mấy, nếu gieo vào nhầm thời, đặt vào nhầm chỗ, gặp phải người không có mắt nhìn, thì nó cũng nằm im một chỗ. Cái khác nhau giữa một người tài được trọng và một người tài bị quên, rất nhiều khi không nằm ở chân thứ nhất, mà nằm ở hai chân còn lại.
牧牛 Một kẻ chăn trâu trở thành Thầy của cả một cõi
Có một người nước mình minh họa cho cái lẽ ấy rõ tới mức, mỗi lần nghĩ tới tôi lại thấy nên kể cho những ai đang ấm ức nghe. Đó là Đào Duy Từ.
Ông sinh ra trong một nhà làm nghề hát xướng. Cái thời ấy, luật lệ ngoài Bắc cấm con nhà ca xướng đi thi, bởi người đời xếp nghề hát vào hạng bị gọi là “xướng ca vô loài”. Nghĩa là cánh cửa khoa cử, con đường gần như duy nhất để một người có tài lúc đó tiến thân, đã đóng sập trước mặt ông ngay từ vạch xuất phát. Không phải vì ông kém. Mà chỉ vì cái gốc gác ông trót sinh ra. Đời đã quay lưng với ông từ trước cả khi ông kịp mở miệng chứng tỏ một điều gì.
Ông từng phải đổi sang họ mẹ để lén đi thi, rồi bị phát giác, bao nhiêu công đèn sách đổ cả xuống sông xuống biển. Một người tài tới mức ấy, bị chính cái thời mình sống chối bỏ, thì nỗi uất trong lòng biết lớn tới đâu.
Nhưng đây mới là chỗ đáng học. Ông không ngồi đó ôm lấy nỗi uất mà oán đời. Ông viết một khúc ngâm dài, tự ví mình như một con rồng còn nằm khoanh nơi gò hoang, lặng lẽ chờ một ngày gặp được nước mà vẫy vùng bay lên. Rồi ông làm một việc còn lớn hơn cả cái tài của mình: ông bỏ lại cái quê hương đã ruồng rẫy mình, lặn lội đường xa vào tận Đàng Trong, một vùng đất hoàn toàn xa lạ. Và ở đó, một người tài kinh bang tế thế đi ở chăn trâu cho nhà người ta.
Bạn hãy dừng lại một chút ở hình ảnh đó. Một người mà sau này đắp nên những chiến lũy giữ vững cả một cõi, có lúc đã là một kẻ chăn trâu vô danh nơi đất khách.
Cho tới một ngày, có một vị quan tên Trần Đức Hòa tình cờ nghe ông bàn luận, giật mình nhận ra đây tuyệt không phải một kẻ chăn trâu tầm thường. Ông quan ấy quý tài tới mức gả con gái cho ông, rồi đem tiến cử lên chúa Nguyễn. Chúa vừa gặp, chuyện trò một hồi, lập tức trọng dụng. Từ một kẻ chăn trâu bị quê nhà chối bỏ, Đào Duy Từ trở thành bậc công thần hàng đầu của cả một cõi, người bày mưu định kế, đắp nên những chiến lũy giữ vững Đàng Trong suốt mấy chục năm, được người đời kính trọng tới mức gọi luôn công trình của ông là “lũy Thầy”.
Bây giờ ta thử đặt một câu hỏi cho thật kỹ. Cái tài của Đào Duy Từ lúc ông còn đi chăn trâu, so với cái tài lúc ông ngồi bàn việc nước bên cạnh chúa, có khác nhau không? Không hề. Nó là một. Không hề lớn thêm một phân nào. Vậy thì điều gì đã làm nên cái khác biệt một trời một vực, giữa việc chết già lặng lẽ như một kẻ bỏ đi, và việc thành Thầy của cả một cõi? Không phải tài. Tài vốn đã có sẵn. Cái làm nên khác biệt là ông đã gặp được một người biết nhìn ra tài mình, ở đúng cái nơi đang cần tới nó. Hai chân còn lại của cái kiềng đã được dựng lên.
潛龍 Con rồng còn nằm dưới vực
Tài năng của con người, ngẫm cho cùng, giống như một hạt giống tốt. Một hạt giống tốt mà gieo nhầm mùa, vùi vào đất cằn, lại gặp người không buồn tưới một gáo nước, thì nó cứ nằm im lìm dưới đất. Không phải vì nó là hạt lép. Chỉ là nó chưa gặp đúng mùa, đúng đất, đúng bàn tay biết chăm. Đời ngoảnh mặt với người tài, rất nhiều khi chỉ là cái hạt mầm ấy đang nằm chờ những điều kiện chưa tới.
Kinh Dịch có một cách diễn đạt cái thế ấy mà tôi cho là đẹp vào bậc nhất, bằng hình ảnh một con rồng. Quẻ Càn vẽ ra con rồng đi qua mấy chặng của một đời. Có lúc là tiềm long vật dụng (潛龍勿用), con rồng còn lặn sâu dưới vực, chưa ai trông thấy, và cũng chưa tới lúc đem ra dùng. Rồi tới lúc hiện long tại điền (見龍在田), con rồng ngoi lên mặt ruộng, bắt đầu để cho người đời trông thấy. Sau nữa mới là phi long tại thiên (飛龍在天), con rồng bay vút lên giữa trời cao.
Điều đáng ngẫm là, từ đầu tới cuối, vẫn chỉ là một con rồng ấy thôi. Nó không hóa từ giun thành rồng. Cái khác nhau giữa con rồng nằm dưới vực và con rồng bay trên trời, không nằm ở bản chất con rồng, mà nằm ở cái thời nó đang sống và cái vị trí nó đang đứng.
Người có tài mà đang bị đời quay lưng, phần lớn là đang ở vào chặng tiềm long. Mà một con rồng còn ẩn mình dưới vực sâu thì tuyệt không phải là một con rồng kém cỏi. Nó chỉ là một con rồng chưa tới lúc bay. Cái khúc ngâm năm xưa của Đào Duy Từ, tự ví mình như con rồng nằm chờ thời, hóa ra chính là ông đã đọc đúng cái chặng đời mình đang ở.
三事 Ba việc của người đang ở chặng tiềm long
Vậy một người tài đang nằm ở chặng tiềm long, đang bị đời ngoảnh mặt, thì nên làm gì? Tôi nghĩ, cứ nhìn vào ba con người vừa kể là thấy ra đường đi.
Việc thứ nhất là giữ cho thật vững niềm tin vào cái tài của mình, như Nguyễn Công Trứ đã giữ qua bao phen thăng giáng. Đừng để vài lần bị đời dập xuống mà đâm ra tự nghi mình là hạt lép. Bởi vì cái nguy hiểm nhất với một người tài không phải là bị đời quên, mà là chính mình quên mất rằng mình có tài. Một khi đã tự buông tay với chính mình thì không một Bá nhạc nào trên đời cứu được nữa.
Việc thứ hai là dám rời cái ao tù đã chối bỏ mình mà đi tìm tới một vùng nước sâu hơn, như Đào Duy Từ đã dứt áo bỏ quê mà vào Nam. Đây là việc khó nhất, vì nó đòi phải buông một cái gì đó quen thuộc, có khi là một chỗ đứng an toàn, một mối quan hệ cũ, một mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Nhưng đôi khi sự thật đơn giản là mình không hề kém, mình chỉ đang đứng nhầm chỗ. Cùng một con người, đặt ở nơi không ai cần tới thì thành vô dụng, dời sang nơi đang khát đúng cái mình có thì thành rường cột.
Việc thứ ba là biết giấu cái sáng của mình lại mà nuôi cho dày thêm, lặng lẽ chờ đúng thời, như Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cụ đỗ Trạng nguyên năm bốn mươi lăm tuổi, cái tuổi mà người xưa gọi là đại khí vãn thành, nghĩa là cái khí lớn thường nên muộn. Làm quan một thời gian, thấy thời cuộc đã đục, cụ lui về dựng am Bạch Vân, mở trường dạy học, sống đời một người ẩn. Vậy mà ẩn rồi, các thế lực một thời vẫn cứ phải tìm tới tận cửa, cúi mình hỏi cụ một lời. Người có thực tài, hóa ra, không sợ bị đời lãng quên. Cái họ thật sự nên sợ chỉ có một, là tự mình đánh mất lòng tin vào cái tài ấy trước khi cái thời của nó kịp tới.
今照 Soi vào đời người hôm nay
Những điều trên nghe như chuyện của người xưa, nhưng tôi để ý thấy nó đang diễn ra mỗi ngày, ngay quanh ta, trong một thời buổi mà làm ăn khó khăn, cơ hội co lại, và người giỏi thì nhiều mà chỗ để dụng võ thì ít.
Có người đã ngồi rất lâu trước màn hình lúc đêm khuya, sau một lần nữa bị bỏ qua trong khi người khác được chọn, và tự hỏi một câu rất buồn: hay là rốt cuộc mình bất tài thật? Có người làm ở một nơi mà cái giỏi của mình chẳng ai cần tới, ngày ngày mài mòn trong những việc không xứng, lâu dần đến chính mình cũng quên mất là mình từng sắc bén. Có người cứ nhảy từ chỗ này sang chỗ khác, chỗ nào cũng thấy bạc, mà chưa một lần dừng lại tự hỏi xem có phải mình đang tìm sai vùng nước.
Trong những năm ngồi luận quẻ cho người tới hỏi, tôi gặp không ít những nỗi như vậy. Và điều tôi học được là cần phân biệt cho rõ hai chuyện rất khác nhau. Một là đời quay lưng vì mình thật sự còn non, còn thiếu, cái này thì hiếm hơn người ta tưởng, và nếu đúng vậy thì việc cần làm là mài thêm chứ không phải oán. Hai là đời quay lưng vì mình chưa gặp thời, đứng sai chỗ, chưa gặp người biết nhìn, cái này mới là phần đông. Mà với phần đông ấy, điều tệ nhất họ có thể tự làm với mình là nhầm chuyện thứ hai thành chuyện thứ nhất, rồi tự kết án mình là kẻ bất tài, buông xuôi luôn cái tài trời cho.
乾卦 Một góc nhìn từ quẻ Càn
Đôi khi có người mang đúng nỗi ấy tới hỏi tôi một việc cụ thể, rằng vì sao mãi không được cất nhắc, vì sao bỏ ra nhiều mà người đời như chẳng thấy. Họ gieo quẻ để hỏi cái việc trước mắt, và có khi quẻ Càn hiện lên với hình con rồng còn ẩn.
Khi quẻ Càn ra trong một cảnh như thế, điều nó nói thường không phải là một lời an ủi cho qua, cũng không phải một lời phán rằng người ấy kém. Nó lặng lẽ quay câu chuyện về một câu hỏi khác: con rồng trong người đang ở vào chặng nào? Nếu là chặng tiềm long, thì việc của lúc này là nuôi sức, là giữ mình, là chờ và đọc cho ra cái dấu hiệu nước đang dâng, chứ không phải gắng sức ngoi lên đòi bay khi vực còn cạn. Nếu là cảnh con rồng mắc cạn nơi ao tù, thì việc của lúc này là tìm đường ra sông ra biển. Quẻ không thay người quyết, nó chỉ bày ra cái lẽ để người tự soi mình mà chọn.
Tôi không bao giờ nói những điều đó ra như một lời định đoạt thay người khác. Tôi chỉ kể lại cái lẽ mà quẻ gợi mở, để người hỏi tự nhìn lại lòng mình mà cân nhắc. Bởi cái thời, cái vị, cái người biết dùng, có những phần nằm ngoài tầm tay ta thật, nhưng cái việc đọc cho đúng mình đang ở đâu và làm đúng việc của chặng ấy, thì lại hoàn toàn nằm trong tay mình.
結語 Lời khép
Tài là cái của mình, mình giữ được, mình mài được, không ai lấy đi được. Còn việc cái tài ấy có được đời dùng tới hay chưa, lại là chuyện của thời, của đất, của người, những thứ ta không bao giờ nắm trọn trong tay. Hiểu được ranh giới ấy, lòng người tài sẽ bớt đi rất nhiều cay đắng. Bởi cay đắng phần lớn sinh ra từ chỗ ta đòi nắm cả cái vốn không thuộc về mình, rồi oán khi nắm không được.
Việc của một người có tài, suy cho cùng, không phải là đứng giữa đường mà trách đời sao mù không thấy mình. Mà là lặng lẽ đọc cho ra mình đang ở chặng nào của con rồng. Rồng còn ẩn thì nuôi sức và giữ lòng tin. Rồng mắc cạn sai chỗ thì đủ can đảm mà dời đi. Còn khi may mắn gặp được một người biết nhìn ra mình, thì đừng để cái tôi của mình che mất cái cơ duyên hiếm hoi ấy.
Tôi xin để lại một câu hỏi, không phải để trả lời thay bạn, mà để bạn mang theo mà tự ngẫm trong những đêm thấy lòng mình chùng xuống.
Có khi nào, cái mà bấy lâu mình vẫn gọi là “đời quay lưng”, thật ra chỉ là mình đang đứng nhầm một khúc sông, mà con rồng trong mình thì vẫn đang lặng lẽ đợi đúng vùng nước của nó, để một ngày vẫy vùng bay lên?